Tài liệu Ngữ văn xin chào bạn! Cám ơn bạn đã ghé thăm blog!

Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Nỗi sầu oán của người cung nữ (Trích "Cung oán ngâm khúc" - Nguyễn Gia Thiều) - Nguyễn Hữu Sơn

Quê hương nhà thơ Nguyễn Gia Thiều (1741-1798) ở thôn Liễu Ngạn, tổng Liễu Lâm, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc (nay thuộc xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), thuộc một trung tâm Phật giáo cổ, từ ngàn năm xưa vốn nổi danh với cái tên Luy Lâu, về sau trở thành đình tổ của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi. 

Một điều cần chú ý là không khí thời đại đã tác động mạnh mẽ tới đời sống tâm linh của Nguyễn Gia Thiều. Bản thân ông sinh ra và lớn lên vào giai đoạn tàn suy của cuộc hôn phối chính trị vua Lê - chúa Trịnh, ngay sau đó là Lê - Tây Sơn và cuối cùng là sự khẳng định vương triều Tây Sơn – Nguyễn Huệ. Rõ ràng trong hoàn cảnh xã hội tao loạn, trăn trở tìm đường thì mọi nguồn sáng tư tưởng đều có thể được vận dụng, hoặc để công kích nhau, hoặc để tổng hợp, chuyển hoá tới một hình thức cao hơn, hoặc dung hoà mong tìm đến sự an bài về mặt tư tưởng... Sống trong giai đoạn các tư trào tư tưởng có biểu hiện tìm đường “đua tiếng”, nhà nghệ sĩ ưu thời mẫn thế Nguyễn Gia Thiều không thể không lựa chọn một lời hoà giải đời sống tâm linh theo cung cách của mình. Trong sự va động nhiều chiều, một nguồn tư tưởng cốt lõi đã hấp dẫn, tạo được sự đồng cảm sâu sắc nơi ông chính là Phật giáo. Xem xét toàn bộ tác phẩm Cung oán ngâm khúc sẽ thấy cảm quan Phật giáo bộc lộ trước hết ở tần số xuất hiện đậm đặc các từ ngữ, thuật ngữ phản ánh quan niệm đời sống nhà Phật như nước dương, lửa duyên, bể khổ, bến mê, bào ảnh, mối thất tình, tuồng ảo hoá, kiếp phù sinh, cơ thiền, cửa Phật, hoa đàm đuốc tuệ, túc trái, tiền nhân hậu quả... 

Ở đây, trong giới hạn cụ thể của đoạn trích Cung oán ngâm khúc (câu 209-244) trong sách Ngữ văn 10 - Nâng cao, Tập II (Nxb. Giáo dục, H, 2006) lại thấy Nguyễn Gia Thiều thể hiện sâu sắc tâm trạng người cung nữ đang cô đơn, thất vọng, chán chường đến tận cùng. Tâm trạng sầu oán đi từ cảm giác đơn độc trước thời gian tàn tạ, mênh mang "thức ngủ thu phong", "chiều ủ dột", "chiều nhạt vẻ thu", "giá đông", trống trải trước không gian "trong cung quế âm thầm chiếc bóng", "phòng tiêu lạnh ngắt như đồng", "thâm khuê vắng ngắt như tờ", "tin mong nhạn vắng", "tiếng lắng chuông rền", không còn tìm thấy đâu niềm vui trong cuộc sống đời thường "tranh biếng ngắm", "mắt buồn trông", "buồn mọi nỗi", "ngán trăm chiều" và dẫn đến nỗi niềm thương thân, trách giận số phận, trách giận thực tại: Hoa này bướm nỡ thờ ơ... Đang tay muốn dứt tơ hồng - Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra...

Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

Môn Ngữ văn: Những chủ đề cơ bản cần phải chú ý (Tác giả: Trần Hinh)

Để xác định rõ hơn hướng ôn tập của mình, học sinh cần phải nắm được những chủ đề cơ bản trong phần nội dung, dạng đề thi cho từng loại câu, dung lượng cần thiết cho mỗi câu hỏi đề thi, làm cách nào để xử lí các dạng câu hỏi tốt nhất.
Tóm lại, để vượt qua những khó khăn, đạt được kết quả như mong muốn, mỗi học sinh cần phải nắm được những bí quyết nào? Đây là phần dành riêng trả lời những câu hỏi đó.
Khác với kì thi tốt nghiệp, nội dung hạn chế thi đại học và cao đẳng không yêu cầu thí sinh phải học phần văn học Việt Nam từ thời điểm 1930 trở về trước và phần văn học nước ngoài. Thí sinh sẽ chỉ chủ yếu tập trung vào phần văn học Việt Nam từ 1930 trở đi. Cụ thể hơn, chỉ những phần đã được giới hạn trong nội dung như chúng tôi đã thống kê ở bài 1. Trong phần này, yêu cầu đề thi cũng rất cụ thể: học sinh phải nắm vững các kiến thức về giai đoạn văn học, trào lưu văn học, tác giả, tác phẩm và hoàn cảnh sáng tác để trả lời các câu hỏi dạng câu 2 điểm. Với câu hỏi thuộc dạng này, thí sinh chỉ cần viết trong khoảng từ 30 đến 50 dòng (hoặc từ 500 đến 600 chữ), tuỳ thuộc vào yêu cầu cụ thể của đề và khả năng nhớ và hiểu kiến thức của học sinh. Những bài viết dài dòng cho dạng câu hỏi này hoàn toàn không cần thiết, vì dù thế nào, bài thi cũng không vượt điểm 2, là khung điểm tối đa cho câu hỏi loại này.
Về mảng kiến thức giai đoạn văn học, trong nội dung hạn chế, chỉ có duy nhất một bài học (Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX), nhưng do đây là một giai đoạn dài, có nhiều biến cố và cũng có những đặc điểm riêng, đề thi cũng có thể chia nhỏ chứ không hỏi toàn bộ giai đoạn. Chẳng hạn, đề thi chỉ kiểm tra sự hiểu biết của học sinh riêng về giai đoạn văn học chống Pháp (từ 1946 đến 1954); hoặc giai đoạn từ 1955 đến 1964; hoặc nữa, đề thi đại học khối D năm 2009, hỏi thẳng vào một đặc điểm quan trọng của giai đoạn văn học 1945-1975: “Một trong những đặc điểm cơ bản của nền văn học Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 là chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Hãy nêu rõ những nét chính đặc điểm trên. Vì thế, cách ôn luyện tốt nhất cho phần nội dung kiến thức này, nên chú ý vào những kiến thức cốt lõi.
Cụ thể, phần kiến thức giai đoạn văn học, cần nhớ được những ý chính như sau:
- Từ 1946 đến 1954, chủ đề bao trùm là ca ngợi Tổ quốc, ca ngợi tinh thần đoàn kết và tập trung cho kháng chiến chống Pháp.
- Từ 1955 đến 1964, chủ đề chính là xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam. Nhân vật trung tâm là người lao động mới và người chiến sĩ giải phóng.
- Từ 1964 đến 1975, văn học chủ yếu tập trung cho kháng chiến chống Mĩ, giải phóng đất nước, chủ đề bao trùm là ca ngợi tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng ở cả hai miền Nam, Bắc.
- Từ sau 1975, đất nước thống nhất, văn học vận động theo khuynh hướng dân chủ hoá, đổi mới về quan niệm của nhà văn, cá tính sáng tạo và phong cách nhà văn được phát huy cao độ. Đặc biệt từ sau năm 1986, văn học Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới. Sự giao lưu, hội nhập với thế giới được đẩy mạnh, góp phần quan trọng trong việc hiện đại hoá văn học nước nhà.
Nhìn chung, khi tiếp xúc với dạng câu hỏi này, học sinh chỉ cần nhớ được những ý cơ bản, trong đó gồm yếu tố bối cảnh xã hội, thành tựu của văn học, tác giả và tác phẩm chính. Mỗi giai đoạn chỉ cần nói được một vài đặc điểm cơ bản là được.

Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

Về nhan đề "Hai đứa trẻ"

1 là Văn Thạch Lam có những điều khá đặc biệt về phong cách, khác hẳn với những nhà văn khác trong nhóm Tự Lực văn đoàn, đó là thứ văn xuôi giàu chất thơ, nói như Nguyễn Tuân" như cánh bướm rung khẽ trong đêm vắng". Một lần tôi đã từng viết "Văn Thạch Lam lấy những sợi tơ đời để kéo dệt lên kén văn chương óng ả nhưng trong hơi thở của ông người ta vẫn thấy sự dịu dàng của mẹ, sự bao dung của cha va sự nhân từ của Chúa Trời. Cho nên khi đặt nhan đề tác phẩm là Hai đứa trẻ , Thạch Lam đã để thế giới của ông về với một cõi lòng yên ả, như ông đã để một mùi hương hoàng lan rơi trên cõi lòng thơ dại. 
2 là nếu đọc tác phẩm Hai đứa trẻ bạn sẽ thấy trong suốt chiều dài của tác phẩm Thạch Lam đặt những chuyển động tâm lí tinh vi của An và Liên làm trung tâm, những suy nghĩ , những cách nhìn về thế giới khách quan và cảm nhận về sự ngột ngạt về bóng tối nơi phố huyện nghèo của An và Liên là khá rõ và được miêu tả với dung lượng lớn về ngôn ngữ. 
3 là tác phẩm không chỉ giản đơn mang kênh thông tin về câu chuyện đợi tàu của Hai đứa trẻ nói riêng và những người dân phố huyện nghèo nói chung mà nó còn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Khai thác những trăn trở giải thoát trên mảnh đất tâm hồn còn non nớt yếu đuối của 2 đứa trẻ, Thạch Lam còn thể hiện sự đau đớn của riêng ông về cuộc sống con người trong bóng tối không hi vọng không niêm tin. Khi bạn là đứa trẻ mơ ước của bạn là một tấm áo mới, một phong kẹo .. nghĩa là những ước mơ về vật chất còn Liên và An lại trăn trở ngột ngạt trong khát vọng tinh thần, Bóng tối đã vắt kiệt những giấc mơ của hai đứa trẻ, những tâm hồn pha lê đang biến màu nơi phố huyện nghèo=> đau đớn lắm chứ! 
Thạch Lam luôn muốn mỗi tác phẩm của ông "phải là thứ khí giới thanh cao làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn" mà
.

vanthuyson.vnweblog

Nguồn: https://vn.answers.yahoo.com/question/index?qid=20071206203015AAeCJU8

"Hai đứa trẻ", nhìn từ tình huống truyện - CHU VĂN SƠN

 Là một tác phẩm xuất sắc, rất điển hình cho loại truyện ngắn - trữ tình của Thạch Lam, "Hai đứa trẻ" đã được phân tích ở khá nhiều bình diện, nhiều giá trị đã được khám phá. Ở bài này, người viết muốn đưa ra một cách tiếp cận khác : tiếp cận từ tình thế, tình huống truyện. Nếu như chấp nhận sự phân loại tình huống truyện với ba dạng cơ bản là tình huống hành động, tình huống nhận thức và tình huống tâm trạng, thì "Hai đứa trẻ" thuộc dạng thứ ba. Tức là tình huống đẩy nhân vật đến những biến động nào đó trong thế giới tình cảm. Nếu có ba kiểu nhân vật là nhân vật hành động, nhân vật tư tưởng và nhân vật ( kiểu con người) tình cảm, thì nhân vật chính trong "Hai đứa trẻ" cũng thuộc dạng thứ ba. Nghĩa là nhân vật chủ yếu được khai thác ở đời sống tình cảm, chất liệu chủ yếu để khắc hoạ nhân vật là tình cảm với những biểu hiện phong phú của nó. Cùng với các yếu tố khác, kiểu tình huống và kiểu nhân vật trên đây đã quyết định đến diện mạo trữ tình của truyện ngắn này.
1. Cái tình thế nảy ra truyện là hai đứa trẻ trên một phố huyện nghèo. Hai cái mầm cây nhú lên trên một mảnh đất cằn cỗi bạc màu. Hai mầm sống non tơ trên một nơi không có sinh khí. Sự trái ngược, trái khoáy kia chứa đựng một mâu thuẫn nhân sinh làm day dứt lòng người, cứ gặm nhấm những lo âu về số phận con người. Hình dung như thế ta mới hiểu vì sao bối cảnh lại là một phố huyện nghèo, và vì sao nhân vật trung tâm của câu chuyện lại là An và Liên.

Chín hướng tiếp cận Nguyễn Du - Nhìn lại và đi tiếp (MAI QUỐC LIÊN)

Nhân kỷ niệm 240 năm năm sinh Nguyễn Du (1765-1820), tôi xin nêu lên những hướng tiếp cận Nguyễn Du, hay nói một cách khác, những cách đọc Nguyễn Du để chúng ta cùng nhìn lại và đi tới.
1. Hướng thứ nhất, vẫn là hướng tiếp tục đi sâu hơn nữa về chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du, một hướng đã được nêu lên ngay từ đầu thế kỷ XIX với câu bình nổi tiếng của Mộng Liên Đường: "Con mắt sáu cõi, tấm lòng nghìn đời", hay lời của chính Nguyễn Du về nỗi đau của mình trước những điều trông thấy: "Trước khi chết còn lo chuyện ngàn năm" (Thiên tuế trường ưu vị tử tiền).
Chủ nghĩa nhân đạo, lòng nhân ái, nỗi đau lo nghìn đời... chính là bản chất của văn học. Ta đã nói nhiều về điều này ở Truyện Kiều.Nhưng cần tiếp tục với những phạm trù nghiên cứu mới. Chẳng hạn, chất Phục Hưng, chủ nghĩa nhân đạo Phục Hưng trong Nguyễn Du.
Khái niệm Phục Hưng là một khái niệm đặc thù của văn hoá phương Tây. Nhưng với viện sĩ N.I. Kônrat nó đã trở thành một khái niệm phương Đông và với quan điểm của ông, nó có từ thời Đường, dù điều nàygây nên tranh cãi quyết liệt.
Trung Quốc thế kỷ VIII-IX và Việt Nam thế kỷ XVIII-XIX có những tiền đề, đúng hơn, những nhân tố nào của văn học Phục Hưng không? Làm sao trong văn học hậu kỳ trung cổ, văn học Việt Nam đã có thể bước một chân sang Phục Hưng với Truyện Kiều? Sự so sánh văn học sẽ giúp chúng ta tìm ra những tương đồng – dị biệt giữa Đông và Tây, những bước trùng nhau và những bước chênh nhau, nhưng nhân loại là một, dù trước hay sau, do những hoàn cảnh lịch sử, các dân tộc sẽ lần lượt đạt tới những đỉnh cao văn hóa kỳ vĩ bằng những thiên tài như Cervantes, Shakespeare... ở phương Tây và Đỗ Phủ, Nguyễn Du ở phương Đông.
Làm được điều này một cách tỉ mỉ, thuyết phục về lý thuyết và về tài liệu, chúng ta sẽ nâng Nguyễn Du lên tầm thiên tài mẹ (génie-mère) của nhân loại. Liên quan đến chủ nghĩa nhân đạo là vấn đề chủ nghĩa hiện thực.
Chủ nghĩa hiện thực là con đường lớn của văn học nhân loại. Nhưng đối với Nguyễn Du, nếu lấy chủ nghĩa hiện thực cổ điển của phương Tây để xem xét ông thì "thiệt" cho ông. Lý giải vấn đề này một cách thuyết phục cũng không đơn giản.

Bản chất mỹ học của cái cười trong "Số đỏ" - MAI QUỐC LIÊN

Người ta đã từng gọi Số đỏ là "tiểu thuyết vỉa hè", "tiểu thuyết đô thị", "tiểu thuyết hoạt kê"... và người ta cũng phân tích đến cạn kiệt những vấn đề về bản chất xã hội, về các lớp sóng ngôn từ, về ý nghĩa tư tưởng, về điển hình hóa nhân vật... của cuốn tiểu thuyết này. Đó đều là những vấn đề quan trọng, cốt lõi của cuốn tiểu thuyết kỳ lạ, vô song này (nhưng tôi không nghĩ là nó có gì, "khủng khiếp" như có người quan niệm). Ở đây, tiếp tục các công việc đã làm ấy, tôi muốn nêu lên một vấn đề mà tôi cũng cho là quan trọng để hiểu được Số đỏ – vấn đề bản chất mỹ học của cái cười trong Số đỏ.
Tôi muốn đi từ bản chất mỹ học của cái cười trong văn học Việt Nam truyền thống, đặc biệt là từ văn học cười dân gian Việt Nam. Dù muốn hay không, Vũ Trọng Phụng, cái thiên tài 27 tuổi ấy cũng là một con người Việt Nam từ trong bản chất sinh thành và bản chất xã hội.
Dù Vũ Trọng Phụng đã tiếp nhận và biến đổi bao nhiêu văn học Pháp, văn học thế giới với cái vốn liếng Pháp "đủ xài" của ông, với cái vốn tiếng Pháp tốt nghiệp trường Tiểu học Hàng Vôi đó, dù chuyên cần đến đâu, Vũ Trọng Phụng cũng không thể tiếp xúc nhiều với văn học Pháp, văn hóa phương Tây. Vì vậy mọi sự nói về ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa phương Tây, văn hóa Nga chỉ là phỏng đoán thôi; dù Vũ Trọng Phụng đã sống và viết vào cái thời đột biến, bước ngoặt của nền văn học Việt Nam chuyển qua hiện đại một cách mạnh mẽ và gấp gáp, chỉ trong vòng có mươi năm nó đã đi trọn một vòng đời văn học lẽ ra phải đi hàng thế kỷ... Dù gì đi nữa, tóm lại một câu, thiên tài của Vũ Trọng Phụng vẫn phải cắm sâu vào mảnh đất của Việt Nam truyền thống. Không có truyền thống ấy, truyền thống cười của dân tộc Việt Nam, từ tiếu lâm, ca dao, tục ngữ, Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, hề chèo, hề tuồng, điêu khắc đình làng, ngôn ngữ "mách qué" cuối chợ đầu thôn... không có nền văn hóa ấy, hẳn sẽ không có Số đỏ.
Bởi vì Số đỏ là đứa con tinh thần của văn học Việt Nam, là số thành trực tiếp hay gián tiếp của nền văn hóa Việt Nam, đặc biệt là nền văn hóa dân gian cười Việt Nam và nó là một cách nhìn, một cách khám phá, giải thích xã hội và con người theo kiểu vừa truyền thống vừa phi truyền thống.

Nguyễn Tuân - Người lữ hành không mệt mỏi của tiếng Việt - hồn Việt - MAI QUỐC LIÊN

Trong những ngày Hà Nội đánh Mỹ, ta có thể nhìn thấy Nguyễn Tuân mặc một bộ đồ lụa nâu, thong thả giở tờ báo tiếng Pháp trên một chiếc nắp hầm trú ẩn cá nhân ở bãi bia Cổ Tân trước Nhà hát Lớn. Rồi những ngày B52 Mỹ rải bom ở Hà Nội, Cụ lại đội lên đầu cái mũ sắt phòng không, ở lại Hà Nội làm "phóng viên chiến trường". "Tôi thấy tôi đúng. Mình là người viết văn, nhà văn Việt Nam. Trong khi thủ đô – trái tim của cả nước lâm nguy mà bỏ Hà Nội mình đi, thì còn viết cái gì, mình còn ra gì nữa ông?". Cụ bảo với một nhà văn như vậy. Và những trang viết say nồng, phức điệu, giàu màu sắc, giàu ý tưởng... của Cụ trong Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi lại vang lên, tiếp nối những trang tùy bút đã viết trong kháng chiến chống Pháp: Đường vui, Tình chiến dịch, Tùy bút kháng chiến...
Nguyễn Tuân có cốt cách của một nhà văn – một nhà báo chiến trường như Hê-minh-uây, Ê-ren-bua. Ông coi trọng văn từ báo chí, từ những vật liệu hằng ngày, từ việc viết sử hằng ngày. Và như vậy, Nguyễn Tuân đã đi, đã dâng hiến hết mình cho dân tộc, với những kiệt tác văn chương còn mãi: Vang bóng một thời, Sông Đà, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, các bài tùy bút, tiểu luận đặc sắc về Tú Xương, Sê-khốp, Đốt-tôi-ép-xki, Nguyễn Du, Lép Tôn-xtôi, Tản Đà, Vũ Trọng Phụng... viết với nhãn lực, bút pháp của một nhà văn bậc thầy và một nhà khảo cứu đam mê, sống với tư liệu. Nguyễn Tuân là kiểu nhà văn vừa truyền thống dân tộc ở độ sâu sắc sung mãn nhất của một người Việt, người Hà Nội – Trường An, có thể có, vừa là nhà văn hóa am tường, say mê văn hóa phương Đông, phương Tây... Nhiều nhà văn nước ngoài, như nhà thơ Nga nổi tiếng E. Ép-tu-sen-cô gọi ông là "nhà văn cổ điển Việt Nam". Đúng như vậy, văn chương của ông đã thành một di sản cổ điển ngay từ lúc ông còn sống.
Nhân vật chính trong tác phẩm Nguyễn Tuân một thời là Nguyễn. Là con một ông tú tài Hán học cuối cùng, Nguyễn Tuân sống và hiểu rõ tập tục "quý phái" của những nhà Nho phong kiến như uống trà, viết chữ, thả thơ, ả đào... Tiếng vọng của một quá khứ văn hóa đến từ những câu chuyện đó. Nó đem lại những niềm luyến tiếc khôn nguôi cho những tâm hồn còn nặng nợ với văn hóa ta, đối lập với cái nhố nhăng, bát nháo của văn hóa thực dân đang du nhập ồ ạt. Đó là sự níu kéo mỏng manh, một "tiếng thở dài chống chế độ thuộc địa" như một nhận định của một nhà văn hóa Cách mạng về văn chương lãng mạn thời kỳ 1930-1945. Vang bóng một thờicòn là tình điệu, một phong cách văn chương, một chiều sâu nội tâm ít có,... của một chàng trai mới ngoài 30 tuổi.