Tài liệu Ngữ văn xin chào bạn! Cám ơn bạn đã ghé thăm blog!

Thứ Tư, 12 tháng 3, 2014

Thiêng liêng hai chữ “đồng bào”

TT - Ngày 2-9-1945, người dân Việt Nam thời hiện đại được nghe ngân nga hai chữ “đồng bào” từ quảng trường Ba Đình lịch sử: “Hỡi đồng bào cả nước, tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".
Từ lời hiệu triệu tha thiết, nồng ấm ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hai tiếng “đồng bào” càng trở nên thiêng liêng với tất cả những người dân Việt.
Thế nhưng, gần đây, hai tiếng “đồng bào” dường như đang bị một số phương tiện thông tin đại chúng lạm dụng và từ đó một số forum (diễn đàn) lại sử dụng sai từ này. Ví dụ tham khảo: tờ Tuổi Trẻ cũng từng giật tít to: Cựu tổng thống Hàn Quốc xin lỗi đồng bào. Hoặc trong một bản dịch khác có chi tiết: “Năm 1984, Tổng thống Mỹ Ronald Reagan đã suýt gây ra cuộc chiến tranh với Nga khi nói vào micro để kiểm tra âm thanh: “Hỡi đồng bào, tôi rất vui mừng được thông báo rằng...”.
Trong nhiều bản dịch, tôi thấy từ "quốc dân", "nhân dân", "người dân"... nói chung đã bị dịch ép thành "đồng bào" như thế. Bạn đọc vào công cụ tìm kiếm Google có thể tìm được hàng chục, thậm chí hàng trăm trường hợp từ đồng bào được vận dụng không hợp lý.
Cho dù “đồng bào” không phải là một từ thuần Việt nhưng tìm trong nhiều tài liệu, tôi không thấy dân tộc nào có truyền thuyết “trăm trứng nở trăm con” như người Việt ta cả.
“Đồng bào bởi thế là một từ đặc sắc, rất đỗi tự hào chỉ của người dân Việt - những người "cùng bọc trứng". Nhìn rộng hơn, chúng ta có cái "nghĩa đồng bào”. Nghĩa tình đó là vốn liếng, là sức mạnh để chúng ta chiến thắng thiên nhiên, chiến thắng kẻ thù.
Giữ lấy nước, cũng là giữ lấy cái nghĩa đồng bào, giữ lấy sự trong sạch, độc đáo trong hai chữ thiêng liêng ấy. Hai chữ ấy không thể chia sẻ, không thể cho không người khác, bởi đó là ruột rà, bởi ông cha ta đã truyền dạy như thế - dù miền ngược, miền xuôi, dù trên rừng, dưới biển, dù ở xa hay ở gần, người Việt nào cũng có tổ tiên được sinh ra từ bọc trứng Âu Cơ.
CHÂU ANH DŨNG (chauanhdung77@...)
Nguồn: http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/440417/thieng-lieng-hai-chu-dong-bao.html

Cầu trời

TT - “Đầu xuân, bạn cầu trời cho hạnh phúc. Trời muốn ban phát hạnh phúc cho đều, mỗi người được ít ngày thôi. Dù trời “keo” lại thế nào, bạn vẫn có thể dùng từ ngày thật biến ảo để được tất”, GS - TSKH Nguyễn Đức Dân giới thiệu như vậy khi gửi đến một sáng tác vui của một cộng tác viên dành cho chuyên mục Tiếng nước tôi:
- Con cầu Trời phù hộ cho những người thân cùng bạn bè của con mãi mãi được khỏe mạnh và hạnh phúc! Đặc biệt là các nhà ngôn ngữ học VN ạ. Họ đang...họ đang...
- Trời nói: “Thôi, thôi, ta biết cả, biết cả rồi. Không phải kể thêm gì nữa đâu! Nhưng họ được khỏe mạnh và hạnh phúc mãi mãi à?
Ta chỉ cho bốn ngày thôi! Sau đó thì...”.
- Thế thì xin Trời cho họ được khỏe mạnh và hạnh phúc trong ngày xuân, ngày hạ, ngày thu và ngày đông ạ.
- Trời nói: “Nhiều quá! Vậy ta chỉ cho ba ngày thôi!”.
- Nếu chỉ được ba ngày, thì con xin cho họ được khỏe mạnh và hạnh phúc trong ngày hôm qua, ngày hôm nay và ngày mai, được không ạ?
- Trời nói: “Ôi dà, vẫn còn nhiều vậy ư? Thế thì ta chỉ cho hai ngày thôi!”.
- Như vậy thì con xin cho họ được khỏe mạnh và hạnh phúc trong ngày hôm nay và ngày mai ạ.
- Trời nói: “Không được. Đến ngày mai, ngày mai sẽ trở thành ngày hôm nay. Một ngày mai khác nữa lại đến. Thế thì hóa ra là...? Vậy thì ta chỉ cho một ngày thôi!”.
- Vâng, thế cũng được ạ.
- Trời ngạc nhiên hỏi: “Là ngày nào, ngày nào? Nói đi, nói đi!”.
- Con xin cho họ được mạnh khỏe và hạnh phúc mỗi ngày ạ.
- Trời làm bộ thở dài, rồi cười bảo: “Ngươi thật là... Thôi, ta đồng ý!”.
- Cảm ơn Trời ạ. Cầu Trời phù hộ cho Trời ạ!
TẠ VĂN THÔNG
Nguồn: http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/476707/cau-troi.html

Bánh không cẳng sao gọi bánh bò?

TT - Trong tiếng Việt, có những từ ngữ hoặc địa danh sử dụng hằng ngày mà nếu có người hỏi tại sao nói thế và nguồn gốc của những từ ngữ ấy từ đâu thì chúng ta đành bó tay; chẳng hạn câu hỏi trên trong một bài ca dao (Nước không chưn sao kêu nước đứng? Cá không giò sao gọi cá leo? Ghe không tay sao kêu ghe vạch? Bánh không cẳng sao gọi bánh bò?...).


1 Chúng ta chỉ có thể giải đáp câu trên dựa vào cuốn Ðại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của, xuất bản cách đây trên 110 năm. Trong sách này, tác giả ghi bánh vú bò và giải thích vì bánh đổ vào chén, trông giống như cái vú con bò. Về sau rút gọn thành bánh bò. Ðây là hiện tượng tỉnh lược trong ngôn ngữ. Các từ sau đây cũng bị hiện tượng tỉnh lược chi phối: dầu con rái => dầu rái, nấm tai mèo => nấm mèo...
Ở miền Bắc có một loài cá giống và to bằng cá chép, nhưng có đặc điểm là tươi rất lâu tên là cá rói. Dù bị bắt ra khỏi nước từ sáng đến trưa cá vẫn còn tươi nên có thành ngữ tươi như cá rói, về sau tỉnh lược thành tươi rói. Một thành ngữ tương tự: ngay như cây chò(một loại cây rừng thân rất thẳng) => ngay chò (ở Nam bộ biến âm thành ngay chừ). Cầu Kiệu ở TP.HCM được Trương Vĩnh Ký ghi là cầu Xóm Kiệu (tức là xóm chuyên trồng kiệu), như vậy chữ Xóm ban đầu đã bị giản lược.
2 Một từ khá phổ biến ở Nam bộ dùng để chỉ người phụ giúp tài xế lái xe đò trong công việc bán vé, thu tiền, khiêng xách hành lý là lơ xe. Từ này bắt nguồn từ tiếng Pháp contrôleur, nghĩa là “người kiểm soát (vé)”. Như vậy, từ một âm tiết vô nghĩa - leur, người Việt biến thành một từ có nghĩa.
Ở miền Bắc, người ta thường dùng từ ngữ săm lốp để chỉ vỏ ruột xe đạp và xe gắn máy. Lốp thì người miền Nam cũng dùng và những người biết tiếng Pháp đều biết nó bắt nguồn từ enveloppe, nghĩa là “vỏ xe”. Còn săm ban đầu người miền Nam và nhất là những người không học tiếng Pháp không hiểu nghĩa. Từ săm bắt nguồn từ ngữchambre à air “ruột xe”.

Nước không chưn sao kêu nước đứng?

TT - Nam bộ là vùng sông nước, nhiều kênh rạch, nhiều loài cá tôm, phương tiện giao thông quan trọng là ghe xuồng nên rất nhiều câu ca dao nói tới sông nước, ghe xuồng và những sản vật sông nước.Với tư duy hồn nhiên và thích chơi chữ, người dân Nam bộ phát hiện những “mâu thuẫn” thú vị về tên gọi của nhiều đồ vật, sản vật, con vật và đặc biệt là loài cá:
Nước không chưn sao kêu nước đứngCá không giò sao gọi cá leo?Ghe không tay sao kêu ghe vạchBánh không cẳng sao gọi bánh bò?
Trong câu ca dao trên, các từ cá leo, ghe vạch, bánh bò là tên gọi. Leo, vạch, bò không phải là động từ mà là danh từ nhằm gọi tên. Đứng đúng là động từ nhưng đã được dùng chuyển nghĩa tạo ra ẩn dụ.
Cách dùng ẩn dụ cho từ đứng
Con trâu đứng ở bờ tre. Trúc xinh trúc mọc bờ ao/Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh (ca dao). Ðó là những cách dùng thông thường. Nhưng “trời đứng gió”, “mặt trời đứng bóng”, “Nước không chưn cớ sao nước đứng?” là những cách dùng ẩn dụ của từ đứng.
Người Việt có kiểu dùng ẩn dụ “đứng” cho những trạng thái hoạt động nào giống tính chất mà con người hoặc động vật đứng. Ði là chuyển động còn đứng là ngừng lại, không chuyển động nữa. Khi đang đi mà đứng lại, ấy là chúng ta không chuyển động nữa, về cơ bản coi như bất động. Những hiện tượng nào đang thay đổi mà chuyển sang trạng thái trong nhận thức của người Việt coi là bất động hoặc gần như bất động sẽ được xem là đứng. Ðó là những trạng thái đứng. Ðây là cách dùng ẩn dụ của từ đứng.
Chiếc đồng hồ đang chạy, hết pin nên đồng hồ đứng lại. Trời không gió, là gió không thổi. Chúng ta gọi là trời đứng gió. Lúa đang phát triển chuyển sang giai đoạn ngừng đẻ nhánh, thân và láđứng thẳng và đang chuẩn bị làm đòng, nhà nông gọi là lúa đứng cái. Mặt trời di chuyển, bóng các vật cũng chuyển động theo, tới lúc mặt trời ở ngay đỉnh đầu, bóng không di chuyển nữa. Lúc đó chúng ta nói mặt trời đã đứng bóng. Trong bài thơ Tiếng hát sông Hương, nhà thơ Tố Hữu đã dùng ẩn dụ “trăng đứng” theo cách này: “Trăng lên trăng đứng trăng tàn/Ðời em ôm chiếc thuyền nan xuôi dòng”.
Khi còn trẻ, bề ngoài con người thay đổi rất nhanh. Tới một tuổi nào đó, một người không còn trẻ nhưng cũng chưa già, hình thức giai đoạn này hầu như không thay đổi nên được gọi là “một người đã đứng tuổi”. Một người khi số phận đã ổn định, không còn thay đổi nữa thì người đó được gọi là đã đứng số.
Tới đây, chúng ta giải thích được vì sao nói nước đứng. Con nước đang lên, tới đỉnh điểm thì dừng lại hoặc đang xuống tới hết mức thì dừng lại. Ðó là lúc nước đứng..

Nỗi ông vật vã, nỗi nàng thở than

TT - Chúng ta biết rằng những nhà thơ, nhà văn lớn thường làm giàu thêm ngôn ngữ của dân tộc mình. Nêu vai trò của Goethe trong ngôn ngữ nước Đức, có người nói rằng Goethe đã tạo ra một nửa thành ngữ của Đức.



Còn đối với đại thi hào Nguyễn Du của chúng ta, không những cụ đã sử dụng các thành ngữ, tục ngữ... một cách tài tình mà còn sáng tạo ra nhiều thành ngữ mới. Bên cạnh đó, nhiều từ trong tiếng Việt được mở rộng thêm nghĩa khi qua bàn tay cụ. Không thể thống kê hết những từ như vậy, chúng ta chỉ nêu một vài ví dụ để minh chứng điều đó.
Mới mẻ chữ “nỗi” của Nguyễn Du
Theo Từ điển tiếng Việt, chữ NỖI có hai ý. Thứ nhất là chỉ sự tình, sự thể không hay xảy ra, nói về mặt tác động đến tình cảm của con người như “nỗi bất công”, “nỗi oan ức”. Thứ hai là từ dùng để chỉ tâm trạng, tình cảm cụ thể (thường vào loại không được như ý muốn) mà con người phải trả qua, Ví dụ như “nỗi buồn, nỗi nhớ”...
"Nếu vậy, chính Nguyễn Du đã sáng tạo ba chữ “nỗi dọc đường” để nói chuyện tình tang ngoài vợ của các đấng nam nhi. Hiện đại biết chừng nào!"
Ðể xem đại thi hào Nguyễn Du đã sử dụng chữ NỖI như thế nào, trước hết thử điểm danh những câu thơ có chữ NỖI trong Truyện Kiều:
Câu 109: Nỗi niềm tưởng đến mà đau/Câu 178: Rộn đường gần với nỗi xa bời bời/Câu 221: Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi/Câu 246: Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây/Câu 535: Mảng tin xiết nỗi kinh hoàng/Câu 537: Gót đầu mọi nỗi đinh ninh/Câu 538: Nỗi nhà tang tóc, nỗi mình xa xôi/Câu 777: Xiết bao kể nỗi thảm sầu/Câu 852:Phần căm nỗi khách, phần nhơ nỗi mình/Câu 987: Nỗi oan vỡ lở xa gần/Câu 1.015: Kề tai mấy nỗi nằn nì/Câu 1.082: Nỗi nhà báo đáp, nỗi thân lạc loài/Câu 1.208: Nỗi đêmkhép mở, nỗi ngày riêng chung/Câu 1.220: Nước đời lắm nỗi lạ lùng khắt khe/Câu 1.250: Ngẩn ngơ trăm nỗi dùi mài một thân/Câu 1.251: Nỗi lòng đòi đoạn xa gần/Câu 1.318: Nỗi quê còn một hai điều ngang ngang/Câu 1.444: Ðể nàng cho đến nỗi này vì tôi/Câu 1.464: Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong/Câu 1.527: Kể chi những nỗi dọc đường/Câu 1.528: Buồng trong này nỗi chủ trương ở nhà/Câu 1.635: Thân sao lắm nỗi bất bằng/Câu 1.790: Nỗi gần nào biết đường xa thế nào/Câu 1.870: Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng/Câu 1.888: Phải chi mình lại xót xa nỗi mình/Câu 1.904: Hữu tài thương nỗi vô duyên lạ đời/Câu 1.943: Sụt sùi giở nỗi đoạn trường/Câu 2.000: Nỗi ôngvật vã, nỗi nàng thở than/Câu 2.006: Nghĩ mà thêm nỗi sởn gai rụng rời/Câu 2.069:Nghĩ rằng khôn nỗi giấu mình/Câu 2.246: Ðường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời/Câu 2.739: Nỗi nàng tai nạn đã đầy/Câu 2.740: Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy càng thương/Câu 2.754: Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai/Câu 2.770: Càng ngao ngán nỗi,càng ngơ ngẩn dường/Câu 2.776: Chàng ôi biết nỗi nước này cho chưa?/Câu 2.782:Cực trăm ngàn nỗi, dặn ba bốn lần/Câu 2.799: Thấy chàng đau nỗi biệt ly/Câu 2.812:Ðể cho đến nỗi trôi hoa, giạt bèo/Câu 2.819: Nỗi thương nói chẳng hết lời/Câu 3.027:Nỗi mừng biết lấy gì cân/Câu 3.102: Ðã xong thân thế còn toan nỗi nào/Câu 3.140: Bi hoan mấy nỗi đêm chầy trăng cao...
Có thể thống kê được 56 câu thơ trong Truyện Kiều có chữ “nỗi”. Trừ hai lần “nỗi” kết hợp với “niềm” để thành danh từ “nỗi niềm”, còn ở 54 câu còn lại, ta xem đại thi hào đã sử dụng chữ này như thế nào.

Thứ Hai, 10 tháng 3, 2014

Về "Trao duyên" - Nguyễn Quốc Huy

Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên năm 1994 có định nghĩa : “Duyên: Phần cho là trời định dành cho mỗi người, về khả năng có quan hệ tình cảm (thường là quan hệ nam nữ, vợ chồng) hòa hợp, gắn bó nào đó trong cuộc đời” (tr.259). Và như thế Trao duyên là gửi gắm nỗi niềm nhớ thương của một người dành cho một người, ấy là cuộc hành trình nối liền trái tim đến trái tim với những rung động luyến ái chân thành. Thế nhưng với Kiều, kỳ lạ thay Trao duyên lại là nước mắt phụ tình, là nỗi lòng đứt đoạn của một kiếp hồng nhan trong cõi đoạn trường bạc mệnh.
Trao duyên là câu chuyện của hai người: kẻ trao và người nhận nhưng chạy suốt đoạn trích lại là tiếng nói của một người, đúng hơn là tiếng nói đa thanh của một tâm trạng. Những mâu thuẫn ấy đã đưa người đọc đến với Trao duyên vừa để thỏa mãn tính tò mò bởi những xung động tâm lý phức điệu mang đậm đặc yếu tố phi logic, vừa để chứng kiến nỗi đau đầu đời của người con gái Tài-Tình hiếu hạnh Thúy Kiều: nỗi đau tự cắt bỏ duyên tình.
 “Yêu nhau cởi áo trao nhau”. Nhưng trao áo cũng không phải là chuyện dễ dàng bởi những bối rối trong cảm xúc yêu thương của cả hai phía, người ta hiểu rằng trao áo cũng chính là trao thân gửi phận nhưng so với trao duyên thì sự khó khăn ấy còn nhân lên gấp bội. Áo vốn là vật hữu hình, là yếu tố định lượng, còn Duyên vô hình, là yếu tố định tính, lại đặt trong cái thế của “tình chị, duyên em” thì chuyện ấy, “hở môi ra” đã thẹn. Biết thẹn mà phải nói, nói để mà trao. Trao để tình chàng Kim không còn dang dở, trao để bước chân phong trần của đời mình không còn níu kéo duyên tình. Còn gì đau đớn hơn khi tự tay mình phải cắt bỏ mối tình đầu thơ mộng, còn gì đau đớn hơn trái tim yêu vùi dập trong nước mắt chia lìa. Chỉ có một đêm, nhưng cái đêm ám ảnh ấy Kiều phải tàn nhẫn với chính mình, phải quay lưng lại với những điều mà nàng vẫn tôn thờ. Trăm mối tơ lòng ngổn ngang, câu chuyện “hở môi ra cũng thẹn thùng” giờ là nỗi trăn trở đè nặng lên đêm cuối định mệnh của Kiều. Làm sao để Vân có thể chấp nhận chàng Kim? Làm sao để Vân mở lòng để đón một chữ tình dang dở?

Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Nỗi sầu oán của người cung nữ (Trích "Cung oán ngâm khúc" - Nguyễn Gia Thiều) - Nguyễn Hữu Sơn

Quê hương nhà thơ Nguyễn Gia Thiều (1741-1798) ở thôn Liễu Ngạn, tổng Liễu Lâm, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc (nay thuộc xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), thuộc một trung tâm Phật giáo cổ, từ ngàn năm xưa vốn nổi danh với cái tên Luy Lâu, về sau trở thành đình tổ của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi. 

Một điều cần chú ý là không khí thời đại đã tác động mạnh mẽ tới đời sống tâm linh của Nguyễn Gia Thiều. Bản thân ông sinh ra và lớn lên vào giai đoạn tàn suy của cuộc hôn phối chính trị vua Lê - chúa Trịnh, ngay sau đó là Lê - Tây Sơn và cuối cùng là sự khẳng định vương triều Tây Sơn – Nguyễn Huệ. Rõ ràng trong hoàn cảnh xã hội tao loạn, trăn trở tìm đường thì mọi nguồn sáng tư tưởng đều có thể được vận dụng, hoặc để công kích nhau, hoặc để tổng hợp, chuyển hoá tới một hình thức cao hơn, hoặc dung hoà mong tìm đến sự an bài về mặt tư tưởng... Sống trong giai đoạn các tư trào tư tưởng có biểu hiện tìm đường “đua tiếng”, nhà nghệ sĩ ưu thời mẫn thế Nguyễn Gia Thiều không thể không lựa chọn một lời hoà giải đời sống tâm linh theo cung cách của mình. Trong sự va động nhiều chiều, một nguồn tư tưởng cốt lõi đã hấp dẫn, tạo được sự đồng cảm sâu sắc nơi ông chính là Phật giáo. Xem xét toàn bộ tác phẩm Cung oán ngâm khúc sẽ thấy cảm quan Phật giáo bộc lộ trước hết ở tần số xuất hiện đậm đặc các từ ngữ, thuật ngữ phản ánh quan niệm đời sống nhà Phật như nước dương, lửa duyên, bể khổ, bến mê, bào ảnh, mối thất tình, tuồng ảo hoá, kiếp phù sinh, cơ thiền, cửa Phật, hoa đàm đuốc tuệ, túc trái, tiền nhân hậu quả... 

Ở đây, trong giới hạn cụ thể của đoạn trích Cung oán ngâm khúc (câu 209-244) trong sách Ngữ văn 10 - Nâng cao, Tập II (Nxb. Giáo dục, H, 2006) lại thấy Nguyễn Gia Thiều thể hiện sâu sắc tâm trạng người cung nữ đang cô đơn, thất vọng, chán chường đến tận cùng. Tâm trạng sầu oán đi từ cảm giác đơn độc trước thời gian tàn tạ, mênh mang "thức ngủ thu phong", "chiều ủ dột", "chiều nhạt vẻ thu", "giá đông", trống trải trước không gian "trong cung quế âm thầm chiếc bóng", "phòng tiêu lạnh ngắt như đồng", "thâm khuê vắng ngắt như tờ", "tin mong nhạn vắng", "tiếng lắng chuông rền", không còn tìm thấy đâu niềm vui trong cuộc sống đời thường "tranh biếng ngắm", "mắt buồn trông", "buồn mọi nỗi", "ngán trăm chiều" và dẫn đến nỗi niềm thương thân, trách giận số phận, trách giận thực tại: Hoa này bướm nỡ thờ ơ... Đang tay muốn dứt tơ hồng - Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra...