Tài liệu Ngữ văn xin chào bạn! Cám ơn bạn đã ghé thăm blog!

Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

Chín hướng tiếp cận Nguyễn Du - Nhìn lại và đi tiếp (MAI QUỐC LIÊN)

Nhân kỷ niệm 240 năm năm sinh Nguyễn Du (1765-1820), tôi xin nêu lên những hướng tiếp cận Nguyễn Du, hay nói một cách khác, những cách đọc Nguyễn Du để chúng ta cùng nhìn lại và đi tới.
1. Hướng thứ nhất, vẫn là hướng tiếp tục đi sâu hơn nữa về chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du, một hướng đã được nêu lên ngay từ đầu thế kỷ XIX với câu bình nổi tiếng của Mộng Liên Đường: "Con mắt sáu cõi, tấm lòng nghìn đời", hay lời của chính Nguyễn Du về nỗi đau của mình trước những điều trông thấy: "Trước khi chết còn lo chuyện ngàn năm" (Thiên tuế trường ưu vị tử tiền).
Chủ nghĩa nhân đạo, lòng nhân ái, nỗi đau lo nghìn đời... chính là bản chất của văn học. Ta đã nói nhiều về điều này ở Truyện Kiều.Nhưng cần tiếp tục với những phạm trù nghiên cứu mới. Chẳng hạn, chất Phục Hưng, chủ nghĩa nhân đạo Phục Hưng trong Nguyễn Du.
Khái niệm Phục Hưng là một khái niệm đặc thù của văn hoá phương Tây. Nhưng với viện sĩ N.I. Kônrat nó đã trở thành một khái niệm phương Đông và với quan điểm của ông, nó có từ thời Đường, dù điều nàygây nên tranh cãi quyết liệt.
Trung Quốc thế kỷ VIII-IX và Việt Nam thế kỷ XVIII-XIX có những tiền đề, đúng hơn, những nhân tố nào của văn học Phục Hưng không? Làm sao trong văn học hậu kỳ trung cổ, văn học Việt Nam đã có thể bước một chân sang Phục Hưng với Truyện Kiều? Sự so sánh văn học sẽ giúp chúng ta tìm ra những tương đồng – dị biệt giữa Đông và Tây, những bước trùng nhau và những bước chênh nhau, nhưng nhân loại là một, dù trước hay sau, do những hoàn cảnh lịch sử, các dân tộc sẽ lần lượt đạt tới những đỉnh cao văn hóa kỳ vĩ bằng những thiên tài như Cervantes, Shakespeare... ở phương Tây và Đỗ Phủ, Nguyễn Du ở phương Đông.
Làm được điều này một cách tỉ mỉ, thuyết phục về lý thuyết và về tài liệu, chúng ta sẽ nâng Nguyễn Du lên tầm thiên tài mẹ (génie-mère) của nhân loại. Liên quan đến chủ nghĩa nhân đạo là vấn đề chủ nghĩa hiện thực.
Chủ nghĩa hiện thực là con đường lớn của văn học nhân loại. Nhưng đối với Nguyễn Du, nếu lấy chủ nghĩa hiện thực cổ điển của phương Tây để xem xét ông thì "thiệt" cho ông. Lý giải vấn đề này một cách thuyết phục cũng không đơn giản.

Bản chất mỹ học của cái cười trong "Số đỏ" - MAI QUỐC LIÊN

Người ta đã từng gọi Số đỏ là "tiểu thuyết vỉa hè", "tiểu thuyết đô thị", "tiểu thuyết hoạt kê"... và người ta cũng phân tích đến cạn kiệt những vấn đề về bản chất xã hội, về các lớp sóng ngôn từ, về ý nghĩa tư tưởng, về điển hình hóa nhân vật... của cuốn tiểu thuyết này. Đó đều là những vấn đề quan trọng, cốt lõi của cuốn tiểu thuyết kỳ lạ, vô song này (nhưng tôi không nghĩ là nó có gì, "khủng khiếp" như có người quan niệm). Ở đây, tiếp tục các công việc đã làm ấy, tôi muốn nêu lên một vấn đề mà tôi cũng cho là quan trọng để hiểu được Số đỏ – vấn đề bản chất mỹ học của cái cười trong Số đỏ.
Tôi muốn đi từ bản chất mỹ học của cái cười trong văn học Việt Nam truyền thống, đặc biệt là từ văn học cười dân gian Việt Nam. Dù muốn hay không, Vũ Trọng Phụng, cái thiên tài 27 tuổi ấy cũng là một con người Việt Nam từ trong bản chất sinh thành và bản chất xã hội.
Dù Vũ Trọng Phụng đã tiếp nhận và biến đổi bao nhiêu văn học Pháp, văn học thế giới với cái vốn liếng Pháp "đủ xài" của ông, với cái vốn tiếng Pháp tốt nghiệp trường Tiểu học Hàng Vôi đó, dù chuyên cần đến đâu, Vũ Trọng Phụng cũng không thể tiếp xúc nhiều với văn học Pháp, văn hóa phương Tây. Vì vậy mọi sự nói về ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa phương Tây, văn hóa Nga chỉ là phỏng đoán thôi; dù Vũ Trọng Phụng đã sống và viết vào cái thời đột biến, bước ngoặt của nền văn học Việt Nam chuyển qua hiện đại một cách mạnh mẽ và gấp gáp, chỉ trong vòng có mươi năm nó đã đi trọn một vòng đời văn học lẽ ra phải đi hàng thế kỷ... Dù gì đi nữa, tóm lại một câu, thiên tài của Vũ Trọng Phụng vẫn phải cắm sâu vào mảnh đất của Việt Nam truyền thống. Không có truyền thống ấy, truyền thống cười của dân tộc Việt Nam, từ tiếu lâm, ca dao, tục ngữ, Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, hề chèo, hề tuồng, điêu khắc đình làng, ngôn ngữ "mách qué" cuối chợ đầu thôn... không có nền văn hóa ấy, hẳn sẽ không có Số đỏ.
Bởi vì Số đỏ là đứa con tinh thần của văn học Việt Nam, là số thành trực tiếp hay gián tiếp của nền văn hóa Việt Nam, đặc biệt là nền văn hóa dân gian cười Việt Nam và nó là một cách nhìn, một cách khám phá, giải thích xã hội và con người theo kiểu vừa truyền thống vừa phi truyền thống.

Nguyễn Tuân - Người lữ hành không mệt mỏi của tiếng Việt - hồn Việt - MAI QUỐC LIÊN

Trong những ngày Hà Nội đánh Mỹ, ta có thể nhìn thấy Nguyễn Tuân mặc một bộ đồ lụa nâu, thong thả giở tờ báo tiếng Pháp trên một chiếc nắp hầm trú ẩn cá nhân ở bãi bia Cổ Tân trước Nhà hát Lớn. Rồi những ngày B52 Mỹ rải bom ở Hà Nội, Cụ lại đội lên đầu cái mũ sắt phòng không, ở lại Hà Nội làm "phóng viên chiến trường". "Tôi thấy tôi đúng. Mình là người viết văn, nhà văn Việt Nam. Trong khi thủ đô – trái tim của cả nước lâm nguy mà bỏ Hà Nội mình đi, thì còn viết cái gì, mình còn ra gì nữa ông?". Cụ bảo với một nhà văn như vậy. Và những trang viết say nồng, phức điệu, giàu màu sắc, giàu ý tưởng... của Cụ trong Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi lại vang lên, tiếp nối những trang tùy bút đã viết trong kháng chiến chống Pháp: Đường vui, Tình chiến dịch, Tùy bút kháng chiến...
Nguyễn Tuân có cốt cách của một nhà văn – một nhà báo chiến trường như Hê-minh-uây, Ê-ren-bua. Ông coi trọng văn từ báo chí, từ những vật liệu hằng ngày, từ việc viết sử hằng ngày. Và như vậy, Nguyễn Tuân đã đi, đã dâng hiến hết mình cho dân tộc, với những kiệt tác văn chương còn mãi: Vang bóng một thời, Sông Đà, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, các bài tùy bút, tiểu luận đặc sắc về Tú Xương, Sê-khốp, Đốt-tôi-ép-xki, Nguyễn Du, Lép Tôn-xtôi, Tản Đà, Vũ Trọng Phụng... viết với nhãn lực, bút pháp của một nhà văn bậc thầy và một nhà khảo cứu đam mê, sống với tư liệu. Nguyễn Tuân là kiểu nhà văn vừa truyền thống dân tộc ở độ sâu sắc sung mãn nhất của một người Việt, người Hà Nội – Trường An, có thể có, vừa là nhà văn hóa am tường, say mê văn hóa phương Đông, phương Tây... Nhiều nhà văn nước ngoài, như nhà thơ Nga nổi tiếng E. Ép-tu-sen-cô gọi ông là "nhà văn cổ điển Việt Nam". Đúng như vậy, văn chương của ông đã thành một di sản cổ điển ngay từ lúc ông còn sống.
Nhân vật chính trong tác phẩm Nguyễn Tuân một thời là Nguyễn. Là con một ông tú tài Hán học cuối cùng, Nguyễn Tuân sống và hiểu rõ tập tục "quý phái" của những nhà Nho phong kiến như uống trà, viết chữ, thả thơ, ả đào... Tiếng vọng của một quá khứ văn hóa đến từ những câu chuyện đó. Nó đem lại những niềm luyến tiếc khôn nguôi cho những tâm hồn còn nặng nợ với văn hóa ta, đối lập với cái nhố nhăng, bát nháo của văn hóa thực dân đang du nhập ồ ạt. Đó là sự níu kéo mỏng manh, một "tiếng thở dài chống chế độ thuộc địa" như một nhận định của một nhà văn hóa Cách mạng về văn chương lãng mạn thời kỳ 1930-1945. Vang bóng một thờicòn là tình điệu, một phong cách văn chương, một chiều sâu nội tâm ít có,... của một chàng trai mới ngoài 30 tuổi.

Cảm hứng NƯỚC, ĐẤT và LỬA qua “Lửa thiêng” - KIM ỬNG

Tháng 11/1940, Lửa thiêng được nhà xuất bản Đời nay in 3000 tập, với lời đề tựa của Xuân Diệu, Tô Ngọc Vân trình bày bìa. Tên tuổi Huy Cận đã tỏa sáng trên thi đàn dân tộc từ đấy, qua giọng điệu trữ tình ảo não, đầy tính triết lý thâm trầm. Lửa thiêng sau 70 năm, thưởng thức lại, người đọc thật thú vị về những cảm hứng vũ trụ, đất, nước, lửa,… bộc lộ trong thơ Huy Cận (đặc biệt là cảm hứng vũ trụ). Trong khuôn khổ cho phép, bài viết ở đây chỉ nhắc đến cảm hứng sáng tác nước, đất và lửa…
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả: Nước - Nỗi buồn và Tình yêu
Qua Hồi ký song đôi, Huy Cận từng nhắc lại những ấn tượng của mình về con sông quê miền sơn cước. Ở đó vào dịp mùa nước lũ, những khúc sông có thác ghềnh, đầy hiểm trở, rất đáng sợ. Trong Lửa thiêng, ký ức ấy vẫn lưu giữ cả tiếng gà gáy xế chiều khi qua ngã ba sông, còn âm âm, vang vang một thời tuổi nhỏ mơ màng:
Thuyền em qua thác sóng xô lùa.
Sông êm, bãi cát con cò đứng:
Khỏi vực, lòng em hết sợ chưa?
Tới ngã ba sông, nước bốn bề,
Nửa chiều gà lạ gáy bên đê.
(Em về nhà)
Nhà triết học Pháp, Bachelard với quan niệm phân tâm học vật chất cho rằng nước sâu, nước lặng thường gợi những nỗi buồn man mác. Con người sẽ cảm thấy một nỗi buồn hoang trước mặt nước lặng như ngủ yên, nước lạc lõng giữa rừng núi cô tịch. Tương tự, nước trong mạch liên tưởng của Huy Cận thật thâm trầm, qua bài Tràng giang:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy giòng.
…
Sông dài, trời rộng - bến cô liêu.
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Bài Tràng giang có tổng số 16 câu, trong đó có đến 9 câu thơ mô tả nước hoặc những hình ảnh liên quan sông, nước: sóng, gợn, thuyền, mái nước, cành khô lạc mấy giòng, sông dài, bến cô liêu… Không gian được mô tả trải dài, trải rộng mênh mông, như không có điểm dừng, điểm kết nối giữa nước và bờ (… không một chuyến đò ngang; không cầu gợi chút niềm thân mật; đâu tiếng làng xa… (đâu ở đây nghĩa là không có)…). Ngôn từ trong từng câu thơ như nén lại tất cả những điểm “không có”, “không thể”… thì năng lượng của nó càng có sức bật đối nghịch mãnh liệt. Chính vì vậy, Tràng giang thấm đượm nỗi buồn rười rượi như sự cộng hưởng giữa cái buồn nhân thế với nỗi buồn vũ trụ!
 

Ánh sáng và bóng tối trong "Chữ người tử tù" &"Hai đứa trẻ" - HOÀNG THỊ HUẾ

Ánh sáng và bóng tối vốn là hai phương diện quan trọng của cuộc sống, luôn luôn tồn tại bên cạnh nhau, bổ sung cho nhau. Trong hội họa, ánh sáng và bóng tối là một thủ pháp cơ bản được dùng để khắc họa con người và sự vật trong cuộc sống.

Trong văn chương, ánh sáng và bóng tối cũng được sử dụng như một thủ pháp nghệ thuật nhằm tạo tình huống truyện, chuyển tải nội dung tư tưởng, chủ đề của tác phẩm. Với Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân và Hai đứa trẻ của Thạch Lam, ánh sáng và bóng tối được sử dụng như một thủ pháp nghệ thuật nòng cốt "biểu hiện cách khai thác hình tượng đối với cuộc sống, như thủ pháp thuyết phục và thu hút độc giả"(1) của tác giả. Nguyễn Tuân và Thạch Lam tuy cùng thuộc dòng văn học lãng mạn nhưng mỗi người có một cách sử dụng các thủ pháp nghệ thuật hoàn toàn khác nhau, tạo nên những thế giới nghệ thuật riêng biệt và độc đáo, mang đậm phong cách cá nhân của tác giả.

Miệt mài trong hành trình kiếm tìm cái đẹp, ngợi ca cái đẹp, Nguyễn Tuân và Thạch Lam, trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ, ánh sáng và bóng tối được sử dụng không chỉ như một nguyên tắc tạo tình huống truyện mà còn vươn đến ý nghĩa biểu tượng về cái đẹp trong cuộc đời. Nguyễn Tuân viết Chữ người tử tù từ cảm hứng về một thú chơi tao nhã của người xưa, trong một tình huống đặc biệt mà người viết chữ và người chơi chữ là người tử tù và người quản ngục. Hai nhân vật này xuất hiện trong tác phẩm như một kiểu song trùng của sự tồn tại không thể thiếu nhau giữa hai khách thể đối cực, như ánh sáng và bóng tối, thậm chí là đối thủ trong một hoàn cảnh đặc biệt. Song chính vì là đối cực như ánh sáng với bóng tối nên bản thân sự khác nhau này cũng đã hàm chứa một sự tương liên, bổ sung cho nhau, thậm chí chuyển hóa từ tối ra sáng như một quy luật tất yếu.

Thứ Hai, 3 tháng 3, 2014

Người vợ quyến rũ, nông cạn nhưng đáng thương của thi sỹ A.X. Puskin

Người vợ yêu của thi sỹ A. X. Puskin từng được mệnh danh là một  trong những “Mỹ nhân hàng đầu của nước Nga” ở đầu thế kỷ XIX. Trong suốt một thời gian dài tên tuổi của Natalia Nikolaeevna Goncharova dường như chỉ là một làn khói không gợi nên những hồi ức đẹp. Vẫn biết là sắc đẹp của nàng luôn gây nên sự ghen tỵ, đàm tiếu và cả những mánh khoé của những kẻ đê tiện, nhưng điều chính yếu là người ta đã không thể tha thứ cho Natalia bởi cho dù là vô thức, nàng đã trở thành nguyên nhân cái chết bi thảm của Puskin. Từ hơn 100 năm qua nhiều người coi Natalia Gonratsova chỉ là một người đẹp nông cạn, quyến rũ nhà thơ bởi tuổi trẻ và vẻ ngoài kiều diễm nhưng chỉ là một cô nàng đỏng đảnh, trống rỗng và nhẫn tâm. Điều này quả là bất công đối với cô. Thực ra cuộc đấu súng là tất yếu, nhà thơ phải bảo vệ uy tín người vợ. Có ít ai coi Natalia là một cá thể và hơn nữa những tư liệu về nàng còn lưu lại không nhiều.
2.Nguoi vo dang thuong cua Puskin 1 Người vợ quyến rũ, nông cạn nhưng đáng thương của thi sỹ A.X. Puskin
Natalia
Tiếng sét ái tình
Natalia sinh ngày 8-10/1812 tại điền trang Karnan tỉnh Tambobski, sau đó gia đình chuyển lên Moskva. Nàng là con thứ sáu trong gia đình. Đến năm lên 8 thì mọi người đều chú ý đến khuôn mặt đẹp hoàn toàn mang nét cổ điển hiếm có của nàng. Người chủ sự gia đình nhà Gontrarova là bà Natalia Goncharova từng có thời nổi trội trong giới quý tộc thời nữ hoàng Elazaveta Alekxeevna. Gia đình đã dần sa sút. Sau một cú ngã ngựa, chồng bà bị chấn thương ở đầu và bị giảm trí nhớ, phải sống phụ thuộc vào vợ. Sau rủi ro này của chồng bà đã trở nên bẳn tính, thậm chí khắc nghiệt đối với con cái. Nhưng dù vậy thì bà vẫn yêu quý các con. Bà quyết định cho các con trai vào quân ngũ, còn các cô con gái đã có được một kiến thức cao vào thời đó. Các cô biết tiếng Pháp, tiếng Đức và tiếng Anh, đại cương về lịch sử và địa lý, tiếng Nga, hiểu biết văn học. Họ thuộc lòng và chép những bài thơ của nhà thơ nổi tiếng Puskin. Họ còn biết làm nội trợ, cưỡi ngựa, nhảy múa và chơi đàn piano, chơi cờ. Đặc biệt là cô gái út Natalia chơi cờ rất cừ. Thế nhưng cuộc sống bên cạnh người mẹ nghiêm khắc và người cha bệnh tật đã làm cho nàng trở nên quá lặng lẽ và nhút nhát. Sau này, khi nàng xuất hiện trong giới quý tộc, nhiều người đã coi đặc tính đó là sự biểu hiện thiếu khả năng. Bà mẹ độc đoán khuyến khích sự ngoan ngoãn, hoàn toàn phục tùng và điều này có ảnh hưởng đến con cái. Bà hàng xóm Nazejda Eropkina nhớ lại thời thơ ấu của Natalia: “Được ở trong bầu không khí trong lành đã cho cô sức khỏe tốt, sự khéo léo. Nhưng chính vẻ tự nhiên không kiểu cách đã làm nên vẻ kiều diễm của Natalia. Đa số thì cho là cô điệu bộ nhưng điều đó thật bất công. Đôi mắt biểu cảm, nụ cười quyến rũ và sự bình dị trong giao tiếp của cô đã chinh phục mọi người. Tất cả mọi thứ ở cô đều đẹp một cách kỳ lạ và đó đâu phải lỗi của cô”.

Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2014

Bức tranh thiên nhiên và bức tranh đời sống phố huyện trong truyện ngắn "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam

1.1. Bức tranh thiên nhiên thấm đẫm hồn quê, hồn dân tộc: 
“HĐT” đã gợi ra một không gian thu hẹp cùng một bức tranh thiên nhiên hiện lên với một nét rất thực mà cũng rất thơ. Thiên nhiên ấy là một buổi chiều “êm ả như ru...gió nhẹ đưa vào”. Thiên nhiên ấy còn hiện lên với cái “mùi âm ẩm” bốc lên từ một ngôi chợ đã vãn, cái mùi lẫn cùng cát bụi quen thuộc mà chị em Liên ngỡ là “mùi riêng của đất, của quê hương”. Đấy còn là hình ảnh hoa bàng rụng lả tả, là một bầu trời đêm với hàng ngàn ngôi sao lấp lánh, với ánh sáng của những con đom đóm bay là là trên mặt đất.
TL không mô tả thiên nhiên với những gì vô tri vô giác của cảnh vật; mà thiên nhiên ấy thấm đẫm hồn quê hương và hồn dân tộc. Một bức “họa đồng quê” quen thuộc, gần gũi, bình dị và gợi cảm, không kém phần thơ mộng vừa bộc lộ sự cảm nhận tinh tế của hồn thơ TL vừa thể hiện được tình cảm, sự gắn bó của nhà văn với một vùng quê nghèo.
1.2. Bức tranh hiện thực đời sống phố huyện nghèo: 
- Bức tranh thiên nhiên >< bức tranh đời sống.
a. Phố huyện lúc chiều về:
- Ngày tàn:
+ Âm thanh:
• Tiếng trống thu không → bản lề khép lại ngày và chuyển về chiều; vang ra để gọi buổi chiều → mong đợi một điều gì đó từ trong bóng tối.
 • Tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng
• Tiếng muỗi vo ve
→ Đơn điệu, tẻ nhạt, buồn bã, lê thê, gợi sự ngột ngạt, bức bối.
+ Ánh sáng: Phương tây đỏ rực như lửa cháy → ánh sáng và bóng tối tranh giành nhau từng tấc đất một.
+ Màu sắc: những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn → đẹp rực rỡ nhưng đó là vẻ đẹp báo hiệu sự tàn tạ.
+ Đường nét: dãy tre làng đen sẫm lại → báo hiệu cái tối đã bước đến phố huyện.
+ Mùi vị: mùi riêng của đất, của quê hương → gần gũi, yêu mến nhưng đó cũng là mùi vị của sự nghèo khổ, lầm than.
 Không gian nghèo nàn, tàn tạ, một miền đời quên lãng, trong thời gian buổi chiều tà càng làm cho câu chuyện thêm buồn hơn. "Không gì buồn bằng những buổi chiều êm/  Mà ánh sáng điều hòa trong bóng tối/ Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối/ Vài miếng đen u uất lẩn trong cành". (Tương tư chiều- Xuân Diệu).